Trang chủ | Diễn đàn | Gửi toà soạn | Tìm kiếm   
Trang chủ
Kinh tế chung
Cơ hội XNK
Thiên nhiên cây trái
 Toàn cảnh chung
 Địa phương, Vùng miền
Rau
Quả
Hoa
Thị trường trong nước
 Tình hình chung
 Cung cầu
 Giá bán buôn tại các chợ đầu mối
Xuất - Nhập khẩu
 Diễn biến và Dự báo
 Thị trường
 Mặt hàng
 Doanh nghiệp xuất khẩu
 Hoạt động XNK tại các cửa khẩu
 Thông tin liên quan
Sản xuất trong nước
 Rau
 Hoa
 Quả
 Sản phẩm khác
Người tiêu dùng
Thị trường thế giới
 Trung Quốc
 Nhật Bản
 Hoa Kỳ
 EU
 ASEAN
 Các nước khác
Cơ hội giao thương
 Mua
 Bán
Thông tin liên quan
Chính sách - Quy định
 Trong nước
 Ngoài nước
Hồ sơ doanh nghiệp
 Trong nước
 Ngoài nước
Hồ sơ thị trường
Kỹ thuật - Công nghệ
 Giống
 Chăm sóc - Bảo quản
 Chế biến
 Công nghệ - Máy thiết bị
Giới thiệu
Liên hệ
Số lượt truy cập:
88966222

Trang tin điện tử phục vụ nông dân, phát triển nông nghiệp và nông thôn!

 

Quả

Chuyên đề: dứa

3/8/2007

I. Giới thiệu cây dứa

Quả dứa được coi là một trong những cây ăn quả nhiệt đới hàng đầu, loại quả “vua”, rất được ưa chuộng ở các nước phương Tây. Quả dứa có mùi thơm mạnh, chứa nhiều đường, lượng calo khá cao, giàu chất khoáng, nhất là Kali, có đủ các loại vitamin cần thiết như A, B1, B2, PP, C đặc biệt trong cây và quả dứa có chất Bromelin là một loại men thủy phân protêin (giống như chất Papain ở đủ đủ), có thể chữa được các bệnh rối loạn tiêu hóa, ức chế phù nề và tụ huyết, làm vết thương mau thành sẹo. Trong công nghiệp, chất Bromelin dùng làm mềm thịt để chế biến thực phẩm, nước chấm.

Ngoài ăn tươi, quả dứa chế biến thành dứa hộp và nước dứa, là những mặt hàng xuất khẩu lớn. Xác bã quả dứa sau khi chế biến dùng làm thức ăn gia súc và phân bón. Thân lá dứa làm bột giấy.

II. Thực trạng sản xuất

1. giống:

Ở Việt Nam hiện biết có trồng 4 giống sau:

· Dứa ta (Ananas comosus spanish hay Ananas comosus sousvar red spanish) là cây chịu bóng tốt, có thể trồng ở dưới tán cây khác. Quả to nhưng vị ít ngọt.

· Dứa mật (Ananas comosus sousvar Singapor spanish) có quả to, thơm, ngon, trồng nhiều ở Nghệ An.

· Dứa tây hay dứa hoa (Ananas comosus queen) được nhập nội từ 1931, trồng nhiều ở các đồi vùng trung du. Quả bé nhưng thơm, ngọt.

· Dứa không gai (Ananas comosus cayenne) được trồng ở Nghệ An, Quảng Trị, Lạng Sơn. Cây không ưa bóng. Quả to hơn các giống trên.

2. Phân bố

Ở nước ta, dứa trồng từ Bắc đến Nam, diện tích trồng cả nước hiện khoảng gần 50.000 ha với sản lượng khoảng 500.000 tấn trong đó 90% là phía Nam. Các tỉnh trồng dứa nhiều ở miền Nam là Kiên Giang, Tiền Giang, Cà Mau, Cần Thơ, Long An… miền Bắc có Thanh Hóa, Ninh Bình, Tuyên Giang, Phú Thọ….miền Trung có Nghệ An, Quảng Nam, Bình Định,… Năng suất quả bình quân một năm ở các tỉnh phía Bắc khoảng 10 tấn, phía Nam 15 tấn/ha.

3. Mùa vụ

Trong năm cây dứa ra hoa nhiều vụ. Ở miền Bắc vụ chính ra hoa tháng 2-3, thu hoạch tháng 6-7, vụ trái ra hoa tháng 6-8, thu hoạch tháng 10-12. Ở miền Nam, dứa có thể ra hoa quanh năm, song thường tập trung vào tháng 4-5 và tháng 9-10. Từ khi ra hoa đến thu hoạch trung bình khoảng 4-5 tháng.

III. Tình hình xuất khẩu dứa 06 tháng đầu năm 2007 của nước ta

Theo số liệu thống kê chính thức của Tổng cục Hải quan, trong 06 tháng đầu năm 2007 tổng kim ngạch xuất khẩu dứa cả nước ta đạt xấp xỉ 8 triệu USD. Các thị trường xuất khẩu chính cho loại mặt hàng này là: Nga, Hà Lan, Đức, Hoa Kỳ…

Tham khảo kim ngạch xuất khẩu dứa của Việt Nam

qua các tháng (ĐVT: Triệu USD)


Hầu hết các doanh nghiệp xuất khẩu dứa cho biết: xuất khẩu dứa trong nứa đầu năm 2007 diễn ra thuận lợi: Nguồn cung cấp dứa ổn định, chất lượng dứa khá đồng đều nên các nhà máy chế biến hoạt động hết công suất trong các dịp thu hoạch.

Hiện nay, nước ta chủ yếu xuất khẩu dứa dưới dạng đóng lon, đóng hộp. Dứa là một trong những loại cây trồng khá phổ biến ở nước ta. Tuy nhiên lượng dứa xuất khẩu hiện nay còn rất hạn chế so với sản lượng sản xuất. Chính các doanh nghiệp cũng chưa có chính sách nhất quán trong thu mua, chế biến dứa xuất khẩu. Người nông dân trồng dứa vẫn còn lo lắng về tình trạng đầu ra của cây dứa. Thiết nghĩ, ngành nông nghiệp cũng như các doanh nghiệp cần có các chính sách xúc tiến về thương mại để tạo đầu ra ổn định cho loại cây trồng có nhiều lợi thế này.

Tham khảo thị trường xuất khẩu dứa

Thị trường xuất khẩu

Kim ngạch
xuất khẩu tháng 06/07

Kim ngạch
xuất khẩu 6 tháng 2007

tỷ lệ %

Nga

595.915,94

2.351.779,33

25,34

Hà Lan

341.561,06

1.533.167,85

22,28

Hoa Kỳ

51.051,80

533.122,44

9,58

Đức

264.087,50

990.575,86

26,66

Ai Len

7.380

213.790,02

3,45

Hàn Quốc

29.250

185.503,94

15,77

Anh

42.011,96

106.309,46

39,52

Pháp

46.855

175.654,48

26,67

Nhật Bản

15.887,70

151.471,21

10,49

Bỉ

40.590

622.512,68

6,52

IV. Khoa học kỹ thuật

Yêu cầu điều kiện sinh thái:

a. Khí hậu

Dứa là cây ăn quả nhiệt đới, ưa nhiệt độ cao. Phạm vi nhiệt độ thích hợp từ 20 - 300C. Giống Cayenne chịu lạnh kém hơn giống Queen và các giống địa phương. Ở nhiệt độ cao trên 32oC có thể làm cháy lá và vỏ quả, nhất là giống Cayenne.

Về lượng mưa, cây dứa có thể trồng nơi lượng mưa thấp, 600-700 mm/năm với mùa khô dài nhiều tháng cho đến những vùng lượng mưa nhiều tới 3500-4000 mm/ năm. Quan trọng nhất là lượng mưa phân bố hàng tháng, khoảng 80-100 mm được coi là đầy đủ, không cần tưới thêm

Về ánh sáng, cây dứa yêu cầu ánh sáng nhiều nhưng thích ánh sáng tán xạ hơn ánh sáng trực xạ. Thiếu ánh sáng cây mọc yếu, quả nhỏ. Ngược lại nếu ánh sáng quá mạnh kèm theo nhiêt độ cao lá sẽ bị vàng hoặc đỏ, lúc này cần che mát cho dứa. Cây dứa tuy không phải là cây ngày ngắn nhưng người ta thấy rằng giống Cayen nếu thời gian bóng tối kéo dài và nhiệt độ giảm thấp sẽ ra hoa sớm hơn.

Từ những yêu cầu trên, điều kiện khí hậu nước ta từ Bắc đến Nam đều thích hợp với cây dứa. Tuy vậy tùy theo đặc điểm từng thời gian ở từng vùng cần có biện pháp để tạo điều kiện cho cây sinh trưởng phát triển thuận lợi, đạt năng suất và chất lượng cao.

b. Đất

Cây dứa có bộ rễ tương đối yếu và ăn nông nên muốn có năng suất cao đất cần có tầng mặt xốp, nhiều mùn và chất dinh dưỡng, đồng thời thoát nước tốt trong mùa mưa. Đất nhiều sét, thoát nước chậm, cây dứa sinh trưởng kém và dễ bị bệnh. Thoát nước và tơi xốp là 2 yêu cầu quan trọng nhất đối với đất trồng dứa.

Về độ pH, cây dứa nói chung thích hợp với đất chua, độ pH từ 4.5 đến 5.5, kể cả trên đất phèn có pH bằng hoặc dưới 4 dứa vẫn sống tốt. các giống dứa tây nhóm Hoàng hậu (Queen), giống Tây Ban Nha (Spanish) chịu chua khá hơn giống Cayen.

Ở nước ta, dứa trồng trên nhiều loại đất như đất đỏ bazan, đất đỏ vàng, phù sa cổ, đất bạc màu ở phía Bắc, đất xám ở miền Đông Nam Bộ và đất phèn ở đồng bằng sông Cửu Long. Tuy vậy, nếu không được bón phân đầy đủ, nhất là phân hữu cơ, năng suất quả sẽ không cao.

Yêu cầu chất dinh dưỡng

Dứa là cây yêu cầu rất nhiều chất dinh dượng do lượng sinh khối lớn. Theo tính toán, trung bình trên 1 hecta trồng trọt, dứa lấy đi từ đất 86 kg N (trong đó thân lá 74 kg, quả 9 kg), 28 kg P2O5 (thân lá 23 kg, quả 5 kg) và 437 kg K2O (thân lá 402 kg, quả 35 kg), cùng với các nguyên tố trung và vi lượng. Cây dứa ít có nhu cầu với Canxi. Yêu cầu với Lân cũng không lớn. Riêng với Kali cây dứa yêu cầu nhiều nhưng nếu bón nhiều Kali lại thưuờng dẫn đến bị thiếu Magiê cũng là một chất dinh dưỡng cần thiết.

Trong thời gian đầu sau khi trồng khoảng 5-6 tháng nhu cầu dinh dưỡng không lớn, chỉ khoảng 10% tổng số chất dinh dưỡng cây cần trong suốt chu kỳ sống. Sau khi cây đã mọc tốt, nhu cầu chất dinh dưỡng tăng rất nhanh, đặc biệt là Kali (gấp 4-5 lần so với đạm).

Ngoài ra, cây dứa cũng cần một số nguyên tố vi lượng khác như kẽm, sắt, Mangan, Đồng…. Nhưng các biểu hiện bị thiếu thường không rõ ràng.

Trồng và chăm sóc

1. Thời vụ trồng

Thời vụ trồng dứa thích hợp ở mỗi vùng phụ thuộc và điều kiện khí hậu có liên quan đến chất lượng chồi giống và thời gian ra hoa.

Ở miền Bắc có 2 thời vụ trồng chủ yếu là vụ xuân (tháng 3-4) và vụ thu (tháng 8-9). Trồng vụ xuân cây sinh trưởng gặp thời tiết ấm áp, có mưa, thuận lợi cho việc tích lũy dinh dưỡng để ra hoa sớm và cho quả to. Trồng vụ này nên trồng những chồi gia và lớn, cuối năm có thể ra hoa thuận lợi. Nếu trồng chồi non và nhỏ, cây cũng ra hoa nhưng không đều và quả nhỏ. Trồng vụ thu thời gian đầu thuận lợi cho sinh trưởng, nhưng sau đó gặp mùa đông lạnh cây tạm ngừng sinh trưởng, một số chồi già có thể ra hoa nhưng quả nhỏ. Vì vậy trồng vụ này nên trồng chồi non để năm sau ra hoa tốt hơn. Trồng vụ thu có thuận lợi là số lượng chồi giống thưuởng nhiều hơn vụ xuân.

Ở miền Nam nên trồng vào đầu mùa mưa, từ tháng 4-6. đến cuối năm cây lớn gặp thời tiết tương đối khô và lạnh, ngày ngắm, cây ra hoa thuận lợi và thu hoạch quả vào tháng 5-6 năm sau.

Riêng ở miền Trung nên trồng vào 2 thời gian là tháng 4-5 vào tháng 10-11. tồng các tháng 6-8 do ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng nên cây sinh trưởng chậm, cần phải chăm bón kỹ hơn.

2. Chọn đất và làm đất trồng

Đất trồng dứa cần có kết cấu nhẹ, đảm bảo thoát nước tốt, mực nước ngầm thấp và hơi dốc. Với yêu cầu này, các vùng đồi thoai thoải của trung du phía Bắc và Đông Nam Bộ được coi là vùng đất lí tưởng cho cây dứa.

Ở đồng bằng sông Cửu Long độ cao so với mặt biển thấp, mặt đất gần mạch nước ngầm, lại chịu ảnh hưởng của quá trình phèn hóa nên muốn trồng dứa tốt phải đào mương lên líp cao, tốn đất và tăng chi phí.

Ngoài ra cần chú ý độ chua của đất. Nhóm dứa Cayen ít chịu chua hơn các nhóm Queen và Spanish. Vì vậy đất quá chua (pH dưới 5) nếu muốn trồng dứa Cayen phải bón vôi.

Ở vùng đồi có độ dốc cao nên trồng thành hàng theo đường đồng mức. Ở dưới mỗi hàng dứa có thể trồng một hàng cây cốt khí hoặc muồng để hạn chế xói mòn đất, che bóng cho quả khỏi rám nắng và góp phần cải tạo đất.

Việc làm đất có thể là cày xới toàn bộ diện tích hoặc theo từng hàng. Nếu phải đào mương lên lớp thù trồng theo từng hốc nhỏ.

Một công việc tương đối khó khăn khi làm đất là phá hủy cây dứa cũ để trồng lại đợt khác. Khối lượng thân lá dứa tương đối lớn, từ 100-200 tấn/ha, lại có nhiều xơ, khó tiêu chảy diện tích ít có thể dùng dao băm thành từng đoạn nhỏ rải xuống ruộng để làm phân. Diện tích lớn phải dùng máy bừa có răng đĩa đê băm chặt cây. Ở các nông trường có diện tích trồng lớn, người ta thiết kế lô trồng theo kiểu bàn cờ, có trục đường chính cho xe cơ giới và hệ thống đường ngang cho xe thô sơ và người đi.

3. Xử lý chồi

Xử lý chồi nhằm mục đích cho cây mau bén rễ phát triển và phòng ngừa sâu bệnh. Trước khi trồng cắt bỏ các lá khô ở gốc. Nhúng ngập 1/3 chồi từ phía gốc vào dung dịch thuốc sâu Pyrinex, Basudin, Vomoca, Oncol,… để phòng trừ rệp và tuyến trùng hại rễ. Hoặc ngâm chồi trong nước nóng 550C (3 sôi + 2 lạnh) trong 15-20 phút.

4. Khoảng cách và mật độ

Để dễ đi lại chăm sóc và thu hoạch, dứa thường được trồng theo hàng kép, tức là trồng thành từng băng 2 hàng một. Khoảng cách giữa các băng khoảng 80 cm, giữa 2 hàng trên băng là 40cm, trên hàng cây cách nhau 30 cm, với cách trồng và khoảng cách này, mật độ khoảng 55.000 cây/ha. Để tăng mật độ trên 60.000 cây/ha, trên một băng có thể trồng 3 hàng, khoảng cách giữa các hàng cũng là 40 cm. tuy vậy do có 3 hàng nên việc làm cỏ khó khăn hơn và quả ở hàng giữa thường nhỏ hơn 2 hàng bên.

Ở đồng bằng sông Cửu Long trồng theo từng líp nên thường không chia thành băng mà trồngg khoảng cách cây đều nhau, khoảng 50-60 cm, mật độ 20.000-30.000 cây/ha.

5. Tưới nước và giữa ẩm

Dứa tuy là cây chịu hạn khá, có thể trồng trọt ở những nơi đất khô cằn và các vùng đất dốc nhưng vẫn rất cần nước để sinh trưởng phát triển, cho năng suất cao và phẩm chất tốt. Ở những vùng có mùa khô rõ rệt như phía Nam và các vùng đồi dốc yêu cầu tưới nước và giữa ẩm cho dứa càng phải chú ý.

Ở đồng bằng sông Cửu Long đất thấp trồng dứa trên từng líp có mương nên việc tưới nước khá thuận lợi. Dùng gầu vảy hoặc máy bơm đặt trên xuồng lấy nước ngay từ mương lên. Có nước mương làm ẩm chân đất nên ngay trong mùa khô mỗi tháng cũng chỉ cần tưới dăm ba lần không khó khăn lắm.

Phủ đất ruộng dứa cũng là biện pháp dược quan tâm, áp dụng không những để giữ ẩm cho đất trong mùa khô mà còn chống úng và chống xói mòn đất trong mùa mưa, hạn chế cỏ dại, góp phần tăng năng suất dứa rõ rệt. Dùng màng phủ nilông màu đen phủ lên đất giữa 2 hàng dứa. Cũng có thể dùng rơm rác, cỏ khô để phủ, đồng thời cung cấp thêm chất mùn cho đất.

6. Tỉa chồi

Đối với cây dứa, tỉa chồi là biện pháp cần thiết để tăng năng suất quả, nhất là với các giống nhóm Queen và Spanish thường ra nhiều chồi, tranh chấp dinh dưỡng của quả,

Chồi cần tỉa bỏ trước hết là chồi ngọn và chồi cuống vì những chồi này không dùng làm giống. Việc tỉa chồi cuống tương đối đơn giản, chỉ cần dùng tay hoặc dao tách nhẹ ra khỏi cuống từ phía trên xuống. Riêng với chồi ngọn nếu bẻ trực tiếp sẽ ảnh hưởng đến quả, tạo ra vết thương dễ làm thối quả, nếu không cẩn thận có thể làm gãy cả quả.

7. Trừ cỏ

Trên ruộng trồng dứa cỏ dại thường phát triển nhiều, ánh hưởng rất lớn đến sinh trường của cây. Các loại hoá chất trừ cỏ dứa dùng hiện nay là các chất Ametryn (có các thuốc Ametrex, Gesapax…), chất Atrazin (các thuốc Atranex, Mizin…), chất Diuron (các thuốc Ansaron, Maduron…) và chất Paraquat (thuốc Gramoxon, Pesle…) các thuốc trên đều phải phun sau khi làm đất lần cuối trước khi trồng dứa hay sau khi trồng dứa cây cỏ còn nhỏ. Riêng chất Paraquat chỉ phun lên cỏ trước khi làm đất, không được phun trên ruộng đã có dứa vì sẽ làm cháy lá.

8. Bón phân

a. Bón lót: Bón phân lót cho dứa khi trồng vụ đầu hoặc sau mỗi vụ thu hoạch là rất cần thiết, có tính chất quyết định đến sự sinh trưởng và năng suất cây. Phân dùng bón lót chủ yếu là phân hữu cơ (phân chuồng, phân vi sinh, phân rác, phân xanh, phân Lân và vôi). Lượng phân hữu cơ bón là từ 10-15 tấn/ha. Lượng Lân nguyên chất không nên bón vôi nhiều quá vì cây dứa cần đất hơi chua, không ưa lượng canxi cao (P2O5) là 30-50 kg (tương đương 200-350 kg suoer lân). Lượng vôi khoảng 100-200 kg/ha tùy độ chua đất. Sau vài ba năm vườn dứa phải phá đi trồng lại, có thể băm nát thân lá trộn với đất cũng rất tốt.

b. Bón thúc: chủ yếu bằng hỗn hợp đạm, và kali với liều lượng cho 1 cây là 5-8 giảm N + 10-15 giảm K2O (tương đương khoảng 10-20 giảm Urê + 20-30 giảm Clorua Kali). Chia bón 3 lần:

Ngoài ra có thể bón phân một lần sau khi hoa nở xong để nuôi quả, lần này chỉ nên dùng phân kali và bổ sung thêm một số vi lượng, nhất là Bo (dạng axit Boric hoặc Borat). Nếu đã dùng phân Lân dạng Thermophotphat (Lân nung chảy Văn Điển) thì không cần bón thêm Magiê, nhưng nếu dùng Super Lân (Lân Lân thao) thì nên bón thêm Magiê với liều lượng khoảng 3 g/cây ở dạng đôlômit.

Các kết quả thí nghiệm của trung tâm nghiên cứu cây ăn quả phú Hộ (Phú Thọ) rút ra kết luận là với giống Queen để có năng suất và chất lượng cao nên bón NPK với tỉ lệ 2:1:3, tương đương 10:5:15 g/cây. Trong thực tế sản xuất nếu không có khả năng đầu tư nhiều có thể bón NPK với liều lượng 8:4:8 g/cây cũng có kết quả tốt. đối với giống Cayen lượng bón cần nhiều hơn, nên ớ mức 10 gN + 5g P2O +10 giảm K2O cho 1 cây. Mức N tối thiểu không dưới 8 g/cây (tương đương 17 giảm Urê).

Cách bón là xới nông 2 bên hàng kép cách gốc 15-20 cm, rải phân rồi lắp đất lại. Có thể dùng thìa có cán dài xúc phân đổ vào nách lá già sát gốc. Rải phân xong nên tưới nước ngay. Ngoài ra hàng năm nên phun phân bón lá một số lần để bổ sung thêm chất dinh dưỡng cho cây, nhất là các chất vi lượng.

10. Rải vụ thu hoạch

Cây dứa có thời vụ chín rất tập trung trong một thời gian ngán nên thường gặp một số khó khăn vè nhân lực và phương diện vận chuyển, thời gian cung cấp sản phầm cho thị trường và nhà máy chế biến cũng ngắn. Vì vậy ở những cơ sở sản xuất diện tích lớn, vấn đề rải vụ là một yêu cầu thực tế quan tâm. Để rải vụ áp dụng nhiều biện pháp.

- Trồng nhiều giống dứa khác nhau theo từng lô riêng để kép dài thời gian thu hoạch. Ở miền Bắc, nhóm dứa Queen chín vào tháng 5-6, nhóm Spanish chín vào tháng 6-7 còn nhóm Cayen chín vào tháng 7-8. nếu trồng cả 3 nhóm giống thời gian thu hoạch có thể kéo dài từ tháng 5 đến tháng 8.

- Trồng nhiều loại chồi có kích thước, trọng lượng khác nhau vào các thời vụ và từng lô khác nhau cũng cho thời gian ra hoa và thu hoạch khác nhau,

- Xử lý cho cây ra hoa theo thời gian dự kiến là biện pháp rải vụ thu hoạch rất có hiệu quả.

DIỆN TÍCH GIEO TRỒNG DỨA PHÂN THEO ĐỊA PHƯƠNG

                                                              Đơn vị: ha

Số TT

Tỉnh/Thành phố

Năm

2001

2002

2003

2004

2005

 
CẢ NƯỚC

37 200

41 700

41 651

43 350

47 400

 
Miền Bắc

12 000

14 300

16 484

16 970

18 400

I


Đồng bằng Sông Hồng

2 600

2 800

3 699

3 928

3 900

1

Hà Nội

 

 

25

24

 

2

Hải Phòng

 

100

32

35

 

3

Vĩnh Phúc

500

600

630

630

700

4

Hà Tây

200

100

79

91

100

5

Bắc Ninh

 

 

7

7

 

6

Hải Dương

100

100

156

170

200

7

Hưng Yên

 

 

 

 

 

8

Hà Nam

 

 

 

 

 

9

Nam Định

 

 

6

6

 

10

Thái Bình

 

 

9

8

 

11

Ninh Bình

1 800

1 900

2 755

2 957

2 900

II

Đông Bắc

2 500

3 000

3 069

3 173

3 700

1

Hà Giang

 

 

 

 

 

2

Cao Bằng

100

100

85

93

100

3

Lào Cai

300

300

262

309

400

4

Bắc Cạn

100

100

141

158

200

5

Lạng Sơn

100

300

277

308

100

6

Tuyên Quang

 

 

 

 

 

7

Yên Bái

200

200

178

512

800

8

Thái nguyên

100

100

127

130

100

9

Phú Thọ

400

 

418

418

400

10

Bắc Giang

1 000

1 700

1 406

1 070

1 300

11

Quảng Ninh

200

200

175

175

400

III

Tây Bắc

400

500

921

1 104

1 200

1

Lai Châu

 

 

 

38

 

2

Điện Biên

100

100

53

38

 

3

Sơn La

200

300

349

420

500

4

Hoà Bình

200

200

519

608

600

IV


Bắc Trung Bộ

6 500

8 000

8 795

8 765

9 600

1

Thanh Hoá

3 500

3 700

3 652

3 772

3 800

2

Nghệ An

1 100

2 100

2 905

3 100

3 900

3

Hà Tĩnh

400

700

725

350

300

4

Quảng Bình

200

200

133

137

100

5

Quảng Trị

600

600

655

689

700

6

Thừa Thiên - Huế

700

700

725

717

700

 

Miền Nam

25 200

27 400

25 167

26 380

28 900

V


Duyên Hải Nam Trung Bộ

3 800

4 400

4 757

4 894

5 100

1

Đà Nẵng

100

100

78

78

100

2

Quảng Nam

2 600

2 600

2 665

2 670

2 700

3

Quảng Ngãi

300

300

418

418

500

4

Bình Định

400

800

1 050

1 206

1 300

5

Phú Yên

200

300

282

258

300

6

Khánh Hoà

200

300

264

264

300

VI

Tây Nguyên

500

1 200

1 245

1 620

1 700

1

Kon Tum

100

100

67

110

100

2

Gia Lai

200

200

332

520

500

3

Đắk Lắk

200

300

391

233

300

4

Đắc Nông

 

 

 

294

300

5

Lâm Đồng

 

600

455

463

500

VII


Đông Nam Bộ

500

600

704

1 134

1 500

1

TP Hồ Chí Minh

200

200

250

550

800

2

Ninh Thuận

 

 

 

 

 

3

Bình Phước

 

 

 

 

 

4

Tây Ninh

 

 

 

 

 

5

Bình Dương

 

 

 

 

 

6

Đồng Nai

300

400

428

465

600

7

Bình Thuận

 

 

21

114

 

8

Bà Rịa - Vũng Tàu

 

 

5

5

 

VIII


Đồng bằng sông Cửu Long

20 400

21 200

18 461

18 732

20 700

1

Long An

500

500

845

1 106

1 300

2

Đồng Tháp

 

 

 

 

 

3

An Giang

 

 

 

 

 

4

Tiền Giang

6 900

6 900

7 946

8 529

10 100

5

Vĩnh Long

100

100

29

29

 

6

Bến Tre

 

 

 

 

 

7

Kiên Giang

8 700

9 700

7 611

7 023

7 000

8

Cần Thơ

1 400

1 400

1 140

 

 

9

Hậu Giang

 

 

 

1 154

1 400

10

Trà Vinh

100

 

37

38

 

11

Sóc Trăng

 

 

 

 

 

12

Bạc Liêu

2 600

2 500

750

750

800

13

Cà Mau

100

100

103

103

100

- Ghi chú: - Số liệu năm 2001,2002,2003 của tỉnh Lai Châu là số chung của Lai Châu và Điện Biên

- Số liệu năm 2001,2002,2003 của tỉnh Đắc Lắc là số chung của Đắc Lắc và Đắc Nông

- Số liệu năm 2001,2002,2003 của tỉnh Cần Thơ là số chung của Cần Thơ và Hậu Giang

NĂNG SUẤT DỨA PHÂN THEO ĐỊA PHƯƠNG

                                             Đơn vị: tạ/ha

Số TT

Tỉnh/Thành phố

Năm
2001
2002
2003
2004
2005
 
CẢ NƯỚC
99,3
110,3
114,9
127,6
 128,5
 
Miền Bắc
85,6
91,2
95,2
116,8
 120,6
I


Đồng bằng Sông Hồng

193,5
182,4
182,7
214,4
 218,8
1
Hà Nội
 
 
34,8
36,1
 
2
Hải Phòng
 
40,0
149,6
148,7
 
3
Vĩnh Phúc
80,0
40,0
43,4
43,6
 41,7
4
Hà Tây
95,0
60,0
76,1
77,7
 80,0
5
Bắc Ninh
 
 
44,3
45,7
 
6
Hải Dương
40,0
50,0
156,7
161,1
 100,0
7
Hưng Yên
 
 
 
 
 
8
Hà Nam
 
 
 
 
 
9
Nam Định
 
 
40,0
38,3
 
10
Thái Bình
 
 
148,9
155,0
 
11
Ninh Bình
242,9
236,0
234,4
280,1
 298,2
II
Đông Bắc
47,7
71,9
60,7
74,2
 78,5
1
Hà Giang
 
 
 
 
 
2
Cao Bằng
20,0
20,0
31,8
35,5
 20,0
3
Lào Cai
106,7
135,0
156,7
170,0
 183,3
4
Bắc Cạn
20,0
20,0
19,7
22,1
 20,0
5
Lạng Sơn
40,0
65,0
84,3
79,7
 20,0
6
Tuyên Quang
 
 
 
 
 
7
Yên Bái
25,0
25,0
28,5
27,6
 150,0
8
Thái nguyên
60,0
70,0
57,0
46,9
 50,0
9
Phú Thọ
35,0
 
44,7
44,7
 45,0
10
Bắc Giang
40,0
78,2
53,5
77,4
 87,3
11
Quảng Ninh
80,0
90,0
61,1
61,0
 40,0
III
Tây Bắc
50,0
56,7
69,9
91,1
 96,3
1
Lai Châu
 
 
 
85,9
 
2
Điện Biên
40,0
40,0
91,9
54,7
 
3
Sơn La
35,0
45,0
61,2
69,6
 70,0
4
Hoà Bình
40,0
40,0
79,8
133,5
 117,5
IV


Bắc Trung Bộ

60,8
66,5
81,3
99,7
 104,3
1
Thanh Hoá
38,6
38,8
48,6
72,0
 74,1
2
Nghệ An
138,3
167,1
180,4
200,0
 177,3
3
Hà Tĩnh
130,0
86,7
58,8
79,5
 70,0
4
Quảng Bình
45,0
45,0
59,5
58,4
 80,0
5
Quảng Trị
68,0
84,0
79,9
75,7
 51,7
6
Thừa Thiên - Huế
78,3
88,3
87,3
86,5
 84,3
 
Miền Nam
105,0
118,5
125,4
133,5
 133,1
V


Duyên Hải Nam Trung Bộ

79,4
79,7
80,4
78,7
 96,8
1
Đà Nẵng
80,0
80,0
96,0
96,0
 60,0
2
Quảng Nam
94,3
96,7
98,3
100,8
 128,7
3
Quảng Ngãi
80,0
66,7
73,5
73,5
 85,0
4
Bình Định
42,5
46,0
47,1
46,9
 57,5
5
Phú Yên
20,0
20,0
14,4
14,4
 15,0
6
Khánh Hoà
25,0
35,0
41,0
41,0
 55,0
VI
Tây Nguyên
83,3
191,3
158,1
147,4
 131,3
1
Kon Tum
50,0
130,0
260,2
312,2
 240,0
2
Gia Lai
110,0
120,0
95,0
96,0
 92,5
3
Đắk Lắk
90,0
140,0
112,0
106,2
 103,3
4
Đắc Nông
 
 
 
69,3
 50,0
5
Lâm Đồng
 
228,0
206,1
214,3
 225,0
VII


Đông Nam Bộ

80,0
83,3
191,2
161,3
 201,3
1
TP Hồ Chí Minh
120,0
120,0
159,3
133,0
 173,3
2
Ninh Thuận
 
 
 
 
 
3
Bình Phước
 
 
 
 
 
4
Tây Ninh
 
 
 
 
 
5
Bình Dương
 
 
 
 
 
6
Đồng Nai
40,0
65,0
219,5
201,5
 216,0
7
Bình Thuận
 
 
54,3
81,6
 
8
Bà Rịa - Vũng Tàu
 
 
35,0
35,0
 
VIII


Đồng bằng sông Cửu Long

109,8
122,6
131,9
144,9
 138,0
1
Long An
70,0
88,0
79,4
168,9
 170,9
2
Đồng Tháp
 
 
 
 
 
3
An Giang
 
 
 
 
 
4
Tiền Giang
118,7
130,0
149,6
149,8
 159,2
5
Vĩnh Long
30,0
50,0
82,5
84,6
 
6
Bến Tre
 
 
 
 
 
7
Kiên Giang
119,2
140,5
131,9
152,0
 121,3
8
Cần Thơ
96,2
91,4
105,7
 
 
9
Hậu Giang
 
 
 
110,0
 112,7
10
Trà Vinh
50,0
 
183,0
178,2
 
11
Sóc Trăng
 
 
 
 
 
12
Bạc Liêu
74,2
74,4
65,0
65,0
 51,3
13
Cà Mau
130,0
110,0
111,7
111,7
 90,0

- Ghi chú: - Số liệu năm 2001,2002,2003 của tỉnh Lai Châu là số chung của Lai Châu và Điện Biên

- Số liệu năm 2001,2002,2003 của tỉnh Đắc Lắc là số chung của Đắc Lắc và Đắc Nông

- Số liệu năm 2001,2002,2003 của tỉnh Cần Thơ là số chung của Cần Thơ và Hậu Giang

 
[Trở về]
 

Các tin cùng chuyên mục

Chong đèn thanh long bằng bóng đèn Compact (11/10/2010)
Hướng đi cho cây bưởi Phúc Trạch công hào (25/8/2010)
Tiền Giang: Nâng cao lợi thế cạnh tranh vú sữa lò rèn Vĩnh Kim (27/3/2010)
Trồng nho an toàn: Hướng đi mới cho nông dân Bình Thuận (2/6/2009)
Chuyên đề: Chuối (11/6/2007)
Chuyên đề: Hồng xiêm (8/5/2007)
Chuyên đề: Quả bơ (25/4/2007)
Các giống cây ăn quả đầu dòng (16/4/2007)
Một số giống cây ăn quả lai tạo (16/4/2007)
Chuyên đề: Cây Nho (4/4/2007)
Trang:  1 2

Các tin đã đưa ngày:   

Thứ năm, 24/4/2014

Hỗ trợ trực tuyến

Gửi tin cho rauhoaqua

Điện thoại: 84-43 7152585 or 84-43 7152586
Fax: 84-43 7.152.574

Bản tin chuyên ngành

Công nghiệp và hàng tiêu dùng

Thức ăn chăn nuôi và Vật tư nông nghiệp

Sản phẩm gỗ và hàng Thủ công Mỹ nghệ

Nhựa - Hóa chất

Rau hoa quả

Thủy sản

Hàng Điện - Điện tử - Máy tính

Ngân Hàng - Tài chính - Tiền tệ

Dệt may

Giao thông vận tải và xây dựng

Thông tin Thương mại Tổng hợp và Dự báo

Số Đặc biệt tháng

Xo So |