Các nước cũng sẽ gặp phải vấn đề về tính nhất quán của chính sách và thời điểm quý I sẽ là giai đoạn khó khăn nhất khi các chính sách điều tiết vĩ mô sẽ phải cân nhắc nhiều đến tương quan giữa tăng trưởng và lạm phát. Trong cả năm 2010, các quốc gia Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam... sẽ đạt được kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng cao do nhu cầu thế giới tăng cao. Xuất khẩu tăng trưởng sẽ đóng góp phần lớn vào tăng trưởng kinh tế năm 2010 của các quốc gia nói trên.
Triển vọng khả quan từ xuất khẩu được thể hiện ngay từ đầu năm. Thống kê sơ bộ, trong tháng 1/2010, kim ngạch xuất khẩu cả nước đạt khoảng 4,9 tỷ USD, tăng tới 28,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Giá nhiều mặt hàng xuất khẩu tăng so với tháng 1/2009 như dầu thô tăng 114%, cao su 87%, gạo 23%, than đá 40%. Nhiều mặt hàng xuất khẩu tăng về sản lượng như hạt điều, chè, hạt tiêu, gạo, sắn và sản phẩm sắn... Tuy nhiên, chúng ta cũng gặp phải khó khăn do kim ngạch nhập khẩu tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2009, tới 86,6% và đạt khoảng 6,2 tỷ USD. Nhập khẩu tăng mạnh là bởi giá nguyên liệu thế giới đã cao hơn nhiều so với tháng 1/2009, như xăng dầu tăng 53%, sắt thép 86%, kim loại thường khác 216%, chất dẻo 114%, sợi dệt 175%... Ước tính việc các mặt hàng này tăng giá đã khiến kim ngạch nhập khẩu tăng thêm khoảng 350 triệu USD. Mức nhập siêu 1,3 tỷ USD là thấp trong vòng 3 tháng trở lại đây, nhưng nhập siêu trên 1,3 tỷ USD ngay từ tháng đầu năm cũng là vấn đề đáng lo ngại.
Về dài hạn, để đảm bảo hiệu quả xuất khẩu trong năm 2010, cần lưu ý rằng: Mỹ đang duy trì chính sách đồng USD yếu. Với chính sách này thì việc kiểm soát lạm phát của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. Bởi: Các nước đang phát triển đang phải đối mặt với “tác dụng phụ” của các biện pháp kích cầu, các chính sách nới lỏng tiền tệ, tín dụng để đối phó với cuộc khủng hoảng kinh tế vừa qua; Nhu cầu nhập khẩu năng lượng, nguyên vật liệu của các nước đang phát triển rất lớn nên chịu tác động mạnh hơn khi giá cả các hàng hoá trên thị trường thế giới tăng.
Đúng như dự báo, CPI tháng 1/2010 vẫn ở mức cao và đã tăng 1,36% so với tháng trước. Dù mức tăng chỉ số giá tháng này tuy thấp hơn con số 1,38% của tháng 12/2009 nhưng không làm giảm lo ngại lạm phát cao. Trong cơ cấu CPI, chỉ số giá nhóm hàng lương thực vẫn tăng khá mạnh, tới 4,41%. Xu hướng tăng giá của mặt hàng lương thực vẫn tiếp diễn. Nhóm hàng thực phẩm cũng tăng 1,65% so với tháng trước. Tính chung, nhóm hàng ăn, dịch vụ ăn uống đã tăng 2,11% so với tháng 12/2009, là mức cao nhất trong số 11 nhóm hàng hóa, dịch vụ thiết yếu. Thực tế hiện nay là nguồn cung vẫn dồi dào và việc giá lương thực, thực phẩm tăng chủ yếu là do yếu tố đầu cơ, lợi dụng thông tin tăng giá của các yếu tố đầu vào như than, điện, thức ăn gia súc... tăng “đón đầu”. Sức mua đối với hàng hóa, dịch vụ vẫn tăng trong tháng giáp Tết. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tháng 1/2010 đạt 121 nghìn tỷ đồng, tăng 3,8% so với tháng 12/2009 và tăng gần 23% so với cùng kỳ năm ngoái. Tại địa bàn trọng điểm là Tp.HCM, nhu cầu mua sắm dịp cuối năm đang cao thêm 15-20% so với tháng 12. Doanh số bán hàng cũng như sức mua được dự báo sẽ tăng 30% so với Tết năm ngoái. Sức mua cao trong bối cảnh giá tăng sẽ ảnh hưởng lớn đến mặt bằng giá chung và gây rất nhiều khó khăn cho công tác kiểm soát lạm phát năm 2010.
Tết Nguyên đán năm nay diễn ra vào giữa tháng 2/2010 nên cũng tác động lớn, tạo nên “sức bật” cho sản xuất trong nước từ đầu năm. Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 1/2010 ước đạt 62,8 nghìn tỷ đồng, tăng 28,4% so với cùng kỳ năm 2009. Mặc dù vậy, cũng cần lưu ý đến mức giảm 4,6% so với tháng trước. Trong giai đoạn các doanh nghiệp đang tập trung sản xuất hàng phục vụ Tết và triển khai các đơn hàng đầu năm thì hiện tượng giảm sút này cũng cho thấy nhiều vấn đề cần khắc phục trong thời gian tới.
Hiện nay, chi phí vốn tăng; giá nguyên, nhiên liệu đầu vào sản xuất từ nguồn nhập khẩu tăng; hoạt động đầu tư chậm lại trong tháng cận Tết; chi phí lương, thưởng vào dịp Tết Nguyên đán ảnh hưởng đến cân đối vốn đầu tư của các doanh nghiệp. Trong tháng 1/2010, ước thực hiện khối lượng vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc ngân sách Nhà nước cũng chỉ khoảng 8.971 tỷ đồng, bẳng 7,2% kế hoạch năm; vốn tín dụng khoảng 11,7 tỷ đồng và bằng 0,04% kế hoạch năm; vốn cho vay đầu tư trung và dài hạn thực hiện thấp, chỉ đạt 8,1 tỷ đồng, bằng 0,03% kế hoạch năm. Như vậy, vấn đề cần phải đảm bảo nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh trong quý I/2010 đã bộc lộ rõ ngay từ đầu năm. Thêm nữa, để đảm bảo cân đối vĩ mô, trong định hướng năm 2010, NHNN đặt mục tiêu tăng trưởng dư nợ tín dụng sẽ ở khoảng 25%, thấp hơn nhiều so với mức tăng trưởng đến 37,73% của năm 2009. Khi đó, nguồn vốn nước ngoài sẽ có vai trò hết sức quan trọng. Giải ngân vốn FDI tháng 1/2010 ước tính khoảng 400 triệu USD, tăng 33,3% so với cùng kỳ năm 2009 là tín hiệu hết sức khả quan. Tăng trưởng kinh tế khả quan, Việt Nam càng có cơ hội thu hút được thêm nguồn vốn FII và việc Việt Nam huy động được 1 tỷ USD trái phiếu Chính phủ cũng sẽ tạo nên một tiền lệ tốt trong quá trình huy động tiềm lực tài chính từ nguồn đầu tư quốc tế.
Rauhoaquavietnam.vn